Hoàng Ngọc Biên

chỉ có ngọn lửa mới hiểu được mùa đông

Trạm cuối

Posted by nxbtrinhbay trên Tháng Năm 2, 2009

(độc thoại)

 

Khi khán giả lần lượt đi vào nhà hát, ánh sáng bên trong là ánh sáng của một buổi chiều nắng gắt trên bãi biển. Ánh sáng ấy đi từ phía sân khấu tạt trở ra các cửa ra vào. Như thế, mọi người vừa bước vào nhà hát đều đột nhiên có cảm giác vừa bước qua một thế giới khác – có nghĩa một phần nào đó chính mình đã khởi sự tham dự vào vở độc thoại sắp tới, khi màn mở ra. Nắng chói chang, tuy nhiên người dàn dựng kịch có trách nhiệm ấn định một liều lượng sáng khả dĩ không làm khổ khán giả.

Sự im lặng bên trong là tuyệt đối. Có nghĩa là khán giả trước khi bước vào bên trong nhà hát đều (bằng cách nào đó) được nhắc nhở nhất thiết phải giữ hoàn toàn im lặng. Sự im lặng này sẽ được yêu cầu tuân thủ trong suốt buổi diễn – cho đến khi đèn trong nhà hát bật sáng. Tiếng động duy nhất, không những không quá lớn, mà còn cần được tiết giảm tới độ chỉ để khán giả có một cảm tưởng thôi, là tiếng sóng biển xô vào bờ từng đợt. Tuy nhiên, giữa những đợt sóng đều đặn, người dàn dựng có thể cho tiếng sóng (cách mỗi năm bảy phút) nghe lớn hơn, nhưng cũng chỉ đủ để khán giả có một cảm tưởng.

Do ánh sáng chói chang có thể quá sức chịu đựng của khán giả, nhà hát, tùy kích thước lớn nhỏ, chỉ nên mở cửa không lâu lắm trước khi màn mở. Và do bố cục của sân khấu, nói rõ là của cảnh trí, màn sử dụng cho vở độc thoại nên là loại màn vén lên, chứ không phải màn kéo tạt qua hai phía sân khấu.

Màn vén lên cho thấy một bãi biển buổi chiều nắng hãy còn rất gắt, và hứa hẹn sẽ còn gắt như thế khá lâu trước khi người dàn dựng bắt đầu “động thủ” để thực hiện các phương án giảm hoặc chuyển màu ánh sáng.

Trên nền vàng nắng gắt ấy, nổi lên chính giữa, ngồi xếp bàn trên cát, mặt hướng thẳng phía mặt trời, tức lưng xây về khía khán giả, cái bóng đen sẫm của một người đàn ông. Người đàn ông hẳn là gầy, hai góc vai xương xẩu nhô cao, mái tóc nhô cao, dù từ xa khán giả cũng nhận ra tóc kiểu bàn chải. Bóng người ngồi bất động, sự bất động cũng tuyệt đối như im lặng đang ngự trị không phải chỉ trên sân khấu, mà toàn nhà hát.

Sự im lặng vẫn là tuyệt đối. Tiếng động duy nhất, không những không quá lớn, mà còn cần được tiết giảm tới độ chỉ để khán giả có một cảm tưởng thôi, là tiếng sóng biển xô vào bờ từng đợt. Tuy nhiên, giữa những đợt sóng đều đặn, người dàn dựng có thể cho tiếng sóng (cách mỗi năm bảy phút) nghe lớn hơn, nhưng cũng chỉ đủ để khán giả có một cảm tưởng. Năm phút sau…

… người ta nghe độc thoại bắt đầu – trong khi toàn hệ thống đèn trong phòng nhà hát (khán giả) bắt đầu giảm dần rồi tắt hẳn.

Biển.

Một lát.

Tội nghiệp cha. Một đời lận đận.

Một lát.

Vua quan chẳng ai ưa.

Một lát.

Một đời lận đận. Tội nghiệp cha.

Một lát.

Vua quan chẳng ai ưa. Thần dân chẳng ai ưa. Một đời lận đận.

Một lát.

Biển chiều. Chiều nữa. Chiều mãi.

Một lát.

Sáng chiều. Trưa chiều. Chiều chiều.

Một lát.

Tối chiều. Chiều.

Một lát.

Chiều nắng chiếu. Nắng gắt.

Một lát.

Nắng chiếu vào mãi tận trong nhà, qua hành lang, vào mãi tận sân gạch tàu đỏ au, khoảng sân vuông vức bóng loáng có cái hồ cá rong rêu cha ta để lại.

Một lát.

Tội nghiệp cha ta, ra đi từ ấy.

Một lát.

Đến tận cuối đời không nhìn lại được cái hồ cá…

Một lát.

Không nhìn thấy, không nói gì.

Một lát. Im lặng tuyệt đối.

Tiếng động duy nhất, không những không quá lớn, mà còn cần được tiết giảm tới độ chỉ để khán giả có một cảm tưởng thôi, là tiếng sóng biển xô vào bờ từng đợt. Tuy nhiên, giữa những đợt sóng đều đặn, người dàn dựng có thể cho tiếng sóng (cách mỗi năm ba phút) nghe lớn hơn, nhưng cũng chỉ đủ để khán giả có một cảm tưởng. Ba phút sau…

Cuộc đời có anh hùng, có đạo tặc.

Một lát.

Như nhau.

Một lát.

Như nhau cả. Rồi sẽ như nhau cả.

Một lát.

Ánh sáng vàng trên biển chuyển sang màu vàng nhạt, rất nhạt, rồi trắng, rồi trắng xóa. Ban đầu những đường nét của biển và trời – của sóng biển và mây trời – còn có màu xám đậm, những nét xám nhạt dần và đến một lúc nào đó mất hẳn. Tiếp theo, trong vòng năm ba phút, trời và nước chỉ một màu trắng xóa, cắt rõ dáng người đàn ông có đôi vai xương xẩu nhọn hoắt.

Một lát.

Ta đang ở đâu đây? Biển quá khứ trước mặt ta, nó có thật, hay chỉ là cảm tưởng? Nó đâu rồi? Và cái màu trắng não nùng kia, đâm vào mắt ta những mũi tên bén nhọn của kỷ niệm, của ký ức, màu trắng não nùng kia có thật hay không – hay chỉ là cảm tưởng, là mơ ước, là quá khứ đã đánh mất?

Một lát.

Thôi, đừng có tập nói. Trễ rồi. Không nói được đâu.

Một lát.

Không nói được lâu.

Một lát.

Không nói được đâu.

Một lát.

Cái khoảng sân gạch nâu đỏ, cái hồ cá lấp lánh dưới trăng, ông chắc gì còn thấy được…

Một lát.

Chắc gì nó còn có đó cho ta nhìn thấy – nếu ta nhìn thấy?

Một lát.

Thế còn cái đập đá trên đó ta đạp xe qua mỗi ngày, khúc sông chảy ngang vườn cây sau nhà, tiếng tre trúc một thời rộn rã, những tàu cau xôn xao trong gió, những tụm lá khô lửa khói… – có ai cho ta biết được những thứ ấy còn, hay đã mất?

Ánh sáng trắng dần, ngả vàng nhạt, rồi vàng, rồi vàng chói chang, tiến trình ngược lại với cách chuyển màu lúc nãy – từ vàng qua trắng – và như thế, chút ít nét của sóng biển và mây trời cũng chuyển từ không đến có, ban đầu là xám nhạt, rồi rõ nét hơn, những nét rõ mà không sắc, bất định như cảm tưởng chung của cái nền vàng chói chang đang hình thành. Toàn bộ tiến trình chuyển màu xảy ra không quá năm bảy phút.

Những thứ ấy còn, hay đã mất?

Một lát.

Trên nền vàng nắng gắt, nổi lên chính giữa, ngồi xếp bàn trên cát, mặt hướng thẳng phía mặt trời, tức lưng xây về khía khán giả, vẫn cái bóng đen sẫm của một người đàn ông. Người đàn ông gầy, hai góc vai xương xẩu nhô cao, mái tóc nhô cao, dù từ xa khán giả cũng nhận ra tóc kiểu bàn chải. Bóng người ngồi bất động, sự bất động cũng tuyệt đối như im lặng đang ngự trị không phải chỉ trên sân khấu, mà toàn nhà hát.

Những thứ ấy còn…

Sự im lặng vẫn là tuyệt đối. Tiếng động duy nhất, không những không quá lớn, mà còn cần được tiết giảm tới độ chỉ để khán giả có một cảm tưởng thôi, là tiếng sóng biển xô vào bờ từng đợt. Tuy nhiên, giữa những đợt sóng đều đặn, người dàn dựng có thể cho tiếng sóng (cách mỗi năm ba phút) nghe lớn hơn, nhưng cũng chỉ đủ để khán giả có một cảm tưởng.

Một lát.

Ánh sáng chuyển từ vàng chói chang qua vàng đậm, màu vàng đậm dần, nhưng không chậm lắm, chuyển qua màu nâu nhạt rồi nâu đậm và nhanh chóng tất cả đều trở thành đen, trừ một đường viền bóng người đàn ông ngồi. Đường viền tuy vậy không sáng, mà chỉ trắng tới mức độ cần thiết để khán giả có thể nhận ra, hay có cảm tưởng là người đàn ông vẫn còn ngồi đó, trong bóng đêm, mặt vẫn hướng ra biển đen. Một lát. Viền trắng quanh bóng người đàn ông biến mất. Có thể không ai để ý sự biến mất, vì chính cái viền trắng cũng nhạt dần – từ xám, xám đậm, rồi đen. Từ xa bây giờ vọng lại không phải là tiếng biển, mà là một tiếng gì nghe gần giống với tiếng côn trùng. Trong khi tiếng nói nhỏ hơn…

… hay đã mất?

Một lát.

Những thứ ấy…

Một lát.

… giờ ở đâu?

Không đến nửa phút sau, đèn nhà hát (khán giả) bật sáng bình thường.

 

 

MÀN SÂN KHẤU MÀU ĐEN ĐÃ KÉO XUỐNG TỪ BAO GIỜ.

Posted in Kịch bản | Leave a Comment »

NGƯỜI KHÁNG CHIẾN [trích]

Posted by nxbtrinhbay trên Tháng Năm 2, 2009

QUẢNG TRỊ – TOURANE – MAI XÁ – SAIGON – DALAT – SAIGON

 

1

 

Viết về cha tôi, thật khó lấy một cái mốc để bắt đầu. Là công chức, là cán bộ, rồi công chức trở lại, trước khi trở thành tư chức, đời cha không thầm lặng, không trầm lắng như những từ hiền lành ấy thường dễ gợi cho ta. Là thư ký tòa sứ tỉnh Quảng trị, khoảng hăm bốn hăm lăm tuổi cha đánh sếp Tây của mình, nghe nói đánh đến chảy máu miệng; đứng đầu ngành thuế vụ thời Việt Minh ở thành phố biển Tourane, vì sáng sớm ngày toàn quốc kháng chiến cha đã phải hối hả đẩy mẹ con chúng tôi lên xe lửa về quê không kịp mua vé tàu, nên một ngày đẹp trời có thể không còn chịu nổi cảnh mất liên lạc gia đình, cũng có thể đơn giản là cha nhớ mẹ con chúng tôi, hay tiếc những buổi sáng cùng gia đình quây quần ăn sáng dưới ngọn đèn vàng ấm áp ở tầng lầu một (chỉ bước xuống chiếc cầu thang chữ U vuông bằng gỗ quí là đã có thể ngồi chễm chệ trong văn phòng!), hay đơn giản hơn là có thể chỉ vì nhớ một mình mẹ tôi thôi (mẹ thời ấy đã sinh sáu lần, giữ được năm) bởi lẽ mẹ đẹp vô cùng, cha thản nhiên bước ra khỏi phòng làm việc và tôi không nhớ có nghe cha nói bằng con đường nào cha đã vượt gần hai trăm cây số, trong hoàn cảnh giao thông khó khăn, hay gần như không có phương tiện giao thông nào, và về tới tận cái làng hẻo lánh ven biển không phải là làng chúng tôi, mà là làng chúng tôi được phép tản cư đến, để tìm gặp mẹ con chúng tôi – gặp một đêm, chỉ một đêm. Về một đêm này, chắc tôi sẽ không quên trở lại, nếu như lần nầy đây tôi có thể đi tới cùng cái thử thách viết về cha vẫn ấp ủ từ mấy chục năm nay, và mỗi lần thử bắt đầu, cũng do cái mốc phân vân muốn chọn lựa mà không chọn lựa nổi nói trên, chưa bao giờ tôi đi quá năm trang giấy.

 

Khi tôi ra đời, cha tôi đã là một người lớn. Sau này quan sát cha dạy dỗ chăm sóc các em tôi, các em đợt hai, tôi thường nghĩ có lẽ thời còn bé cha đã dạy tôi đủ điều. Nhưng tôi lầm. Tôi không nghi ngờ gì cả về việc cha có thương chúng tôi hay không, bởi vì hình như cha rất nổi tiếng về chuyện thương con, nhưng như lời mẹ tôi kể, thời ấy cha phó thác mọi việc cho các chị vú và người giúp việc (cũng sau này tôi được biết vú của tôi là một trang khuynh nước khuynh thành), thậm chí cha còn muốn cả mẹ cũng chỉ nên đứng bên cạnh để ngó mà thôi! Cha đi làm ở công sở, cuối tuần cha hớn hở trải khăn trắng lên cái bàn vuông ở phòng khách, đặt lên đó một bộ bài tây, bảo mẹ chuẩn bị trà và cà phê bánh ngọt, rồi sẵn sàng ngồi chờ bạn bè… Mẹ bảo cha không phải là khó tính lắm, nhưng khi chúng tôi chỉ ấm đầu một chút thôi, chứ chưa phải là sổ mũi, cha có thể mất hết bình tĩnh, bắt đầu canh chừng những người ăn ở trong nhà, đi lui đi tới, và… khịt mũi. Thế nhưng không phải cha hoàn toàn không gần gũi chúng tôi: cha thường thích đặt người xuống ngay giữa chiếc giường rộng, để nằm một bên là chị tôi, chị cả, một bên là tôi, ngó qua bên này, rồi ngó qua bên kia, và sáng tác một câu mà mãi đến khi tôi đã gần đến tuổi bảy mươi thỉnh thoảng trong nhà vẫn nhắc mãi: ngó qua con D thì tội thằng S, ngó qua thằng S thì tội con D. Câu nói có vẻ là nói đùa, có khi nghe như thơ, hay như một câu vè, tùy người nghe, nhưng với tôi dấu ấn của nó đậm đến nỗi mãi về sau, khi chính tôi có nhiều anh chị em trong nhà, rồi lớn lên nữa có nhiều bạn bè, rồi con cái, tôi vẫn cứ nghiêm chỉnh có cái suy nghĩ tương tự – về một thứ công bằng trong cuộc sống, ngay cả trong một số hoàn cảnh sự công bằng ít ai đặt ra.

Mẹ tôi rất đẹp, chữ nghĩa mộc mạc của tôi không làm sao tả ra hết được, nên tôi phải xin khất lại về sau, nếu như lần nầy đây tôi có thể đi tới cùng cái thử thách viết về cha vẫn ấp ủ từ mấy chục năm nay, và mỗi lần thử bắt đầu, cũng do cái mốc phân vân muốn chọn lựa mà không chọn lựa nổi, chưa bao giờ tôi đi quá năm trang, và tìm cho ra mỗi năm trang kia trong cái mớ ngổn ngang giấy má nằm đâu đó trong phòng làm việc của tôi là điều sức khoẻ tôi hiện nay không cho phép. Còn cha? Cha nước da ngăm, khuôn mặt không bảnh trai, mắt hơi hiếng, cái hiếng những lúc cha giận dữ thì trông xấu, nhưng những lúc cha vui vẻ thì, nói khách quan, nó tự ghép chung với một chiếc răng khểnh nằm đâu đó tôi không còn nhớ chính xác vị trí, để đặt lên khuôn mặt không bảnh trai ấy một vẻ thu hút lạ lùng, tựa như thiếu cái chút hiếng và cái răng khểnh kia thì khuôn mặt – và cả những điều nói ra – chưa tới. Có người cho rằng vì chỗ khác biệt đó, cha mẹ tôi không cân đối. Tôi có cái suy nghĩ khác mà tôi cho là chính xác và văn học hơn: cha và mẹ tôi là một kết hợp đẹp đẽ giữa thần và sắc.

Cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi trôi chảy, bởi vì đây là một cuộc hôn nhân sắp xếp: thời ấy con gái một vị bác sĩ tây y nổi tiếng trong tỉnh về với con trai của một vị quan nhỏ trong triều, xuất thân từ một gia đình khoa bảng đã sản sinh ra những hoàng giáp nổi tiếng cả nước, đông tây gặp nhau, đâu thể có cái gì đẹp hơn? Như thế, cha mẹ tôi biết nhau, rồi gặp nhau, nói chuyện với nhau, nhất nhất đều do sắp xếp của hai bên, có thể dưới cả sự giám sát chắc hẳn không cần phải kín đáo hay ngụy trang của hai bà mẹ, và mọi thứ như thế cũng có lẽ đã khởi đầu trên chiếc chiếu bốn người ngồi của những buổi tứ sắc? Tôi không thể nào chắc chắn. Khi tôi đã lớn, trong nhà anh chị em không những có đợt một, mà còn có một phần của đợt hai, thỉnh thoảng trong những bữa cơm tối, ai nấy có quyền thong thả kéo dài những giây phút ấm cúng hiếm hoi trong đời sống hàng ngày bấy giờ đã bắt đầu trở nên gay go do những biến động xã hội, chiến tranh từ xa và có khi chiến tranh ngay cả trong thành phố, cha tôi hơn một lần thân mật nhắc lại một chi tiết trong quá khứ của cha và mẹ, nói với chúng tôi rằng lần đầu cha gặp mẹ, mẹ đang nhảy dây với các chị em của mẹ, hay bạn bè gì đó. Mẹ có nhiều hình đen trắng hoặc màu sepia chụp thời mới lấy chồng, nhưng những hình đó không giúp tí nào cho anh chị em chúng tôi trong việc tưởng tượng cái cô con gái nhỏ nhắn hiền lành, tóc vấn cao có rẽ đường ngôi một bên kia, đẹp hơn cả một đóa hoa, lại có thể đã là một bà vợ, và bà vợ ấy, không lâu trước đó, vẫn còn nhảy dây với chị em, với bạn bè… Những giai thoại về cha mẹ tôi thường không được kể lại, hoặc làm sống lại đầy đủ: những mảnh rời trong cuộc đời trải qua đủ các thời lịch sử giông bão khác nhau của một đôi vợ chồng bình thường, với những nỗi lo bình thường, khởi đầu tựa như hai thanh thiếu niên đầu hôm sớm mai bỗng thấy mình không còn ở cái chỗ xưa nay vẫn ở, với những người thân xưa nay, hàng ngày, vẫn gặp ra vào, từ những họ hàng bà con thân sơ thường lui tới, mãi từ những mảnh đất xa xôi trong nam ngoài bắc, cho đến những người khăn gói từ những vùng quê lân cận… Đầu hôm sớm mai, mọi chuyện đều khác, ra vào trong nhà, chỉ có hai người. Chỉ có hai người phải làm đầy, và phải hít đầy không khí của cả một căn nhà. Cha đi làm ở tòa sứ, ngày tám tiếng, tôi đoán chừng như thế, và chắc chắn cái thời ấy người ta chưa có sáng kiến hiện đại đi vào bàn giấy, để cái cặp xuống bàn, rồi lấy lý do công tác để đi ra ngoài phố ngồi quán nước như thời nay, mà ở một tỉnh nhỏ bé như thế tất nhiên cũng chẳng có quán nước để có thể ra ngồi. Cha lại không thích nhìn thấy mẹ làm việc này việc nọ, cha thường ít khi quên dặn mẹ, mỗi khi đóng cánh cửa lớn ngó ra bờ sông để đi làm: bên nớ không phải làm chi cả, mọi chuyện đã có chị vú và, vân vân…

Ít khi để ý đến việc nhà, càng ít khi cụ thể làm bất cứ một việc gì trong nhà, tay chân theo như tôi nhớ, không phải chỉ trong một quãng thời gian nhất định nào, mà trong nhiều giai đoạn khác nhau của cuộc sống gia đình, có vẻ như vốn rất là lều khều, nói thẳng ra là lúc nào cũng vụng về, cha tôi lại là một trong những người rất sớm đi Hướng đạo, và nghe đâu thuộc loại chức sắc, mỗi lần đi cắm trại – có khi vào tận Huế, nếu như căn cứ vào năm bảy tấm hình màu sepia sinh hoạt lửa trại trên núi Bạch mã và những vùng phụ cận Huế hay Quảng Trị còn để lại, mà mẹ tôi thỉnh thoảng đem ra cho chúng tôi cùng xem, vào cái thời cha tôi đã đi kháng chiến, ngày đêm còn đeo balô đạp xe đạp xuyên qua những núi rừng Việt bắc để làm công tác tuyên truyền về thuế nông nghiệp – chắc cha không quên nhờ một chị em nào đó, hoặc là chị em của mẹ, hoặc một trong những em gái của cha, đến nhà ngủ với mẹ.  Cha có cả thảy năm con trai, thì nói chung hết hai đã được thừa hưởng ít nhiều cái lều khều nhỏ này của cha: tôi chủ quan tự xét mình không có trong số đó. Nhưng ngược lại cha là một người không những có một đam mê thôi, mà còn có một năng khiếu kỳ lạ, về chuyện dọn nhà, nói đúng là thói quen dọn nhà. Cha là người ăn ở rất sạch. Chỗ nào cha buớc chân tới, chỗ ấy tất không thể có một hạt bụi. Trừ nhà bếp, mà cha không đặt chân tới, hoặc chỉ đặt chân tới để xem có mẹ tôi ở đấy hay không thôi (cha xưa nay vẫn có cái thói quen đi tìm vợ ngay trong nhà mình, vào bất cứ lúc nào, và có khi không để làm gì cả, nghĩa là việc đi tìm rất có thể chỉ bắt nguồn từ một cảm tưởng bất an có từ bao giờ không ai đoán được!), những phòng còn lại có thể nói liên tục được hưởng qui chế săn sóc và thay đổi ít ra là mỗi ba hay bốn ngày, hay lâu lắm là một tuần lễ. Như thế, cả cuộc sống kéo dài, trừ gần tám năm kháng chiến sống ở Việt bắc, và một thời gian không lâu ở thành phố Tourane, những căn phòng sắp xếp theo sáng kiến và kiểu cách mới thay đổi liền liền của cha tất nhiên nhiều lần bắt buộc phải trở lại bố trí cũ, cho dù với những sự hào hứng mới. Có một ngoại lệ chăng, là thời gian mới chuyển vào Saigon đầu năm 1953, cả nhà còn ở tạm trong một hai phòng nhỏ cọng với một phòng bếp ở tầng dưới một ngôi biệt thự nằm trên Boulevard Galliéni đi vào Chợ lớn mà tôi nghĩ là thuộc khu dành cho gia nhân, bởi lẽ toàn bộ biệt thự thời ấy được sử dụng làm nơi làm việc hành chánh của cả một Bộ trong chính phủ, mà Bộ trưởng chính là ông ngoại bác sĩ của tôi. Sự chăm sóc ấy của cha thường khi không được mẹ con chúng tôi hưởng ứng, có thể nói là kể từ những ngày sơ sinh của sự sáng tạo ấy cho đến khi cha đã già, do sức khỏe xuống dần nên đam mê cũng xuống theo, ít ra là nó không hề được hiểu là một công việc nhà. Nếu nó không thuộc phạm trù mỹ thuật, một đằng, thì đằng khác, nó cũng không được coi là một nhu cầu, có nghĩa trong trường hợp này, có những lúc, nói tội nghiệp cha, những nỗ lực sắp xếp của cha không thuộc loại nghệ thuật vị nghệ thuật, cũng không phải nghệ thuật vị nhân sinh. May cho cha, cha mẹ có cả thảy mười người con, cọng với mẹ tôi là mười một người, không ai coi là ch yện trịnh trọng bất cứ loại nghệ thuật nào trong hai thứ vừa kể. Cái nghệ thuật lớn nhất, đáng làm nhất đối với hầu hết anh chị em chúng tôi (có thể lấy từ cha, hay từ mẹ?) không lệ thuộc sáng kiến hay ý thích của người khác, nghệ thuật ấy là thứ nghệ thuật làm theo ý của riêng mình, và làm cho mình vui. Những người con của cha mẹ tôi ai nấy không giống phần còn lại trong đại gia đình, không bao giờ phải ngó trước ngó sau để xem ai thích cái gì thì mình thích cái ấy; làm nghệ thuật với chúng tôi, nếu có phải gọi như thế, ấy là làm đúng cái điều mình thích và làm được cái điều ấy, theo ý thích của mình – cho vui. Cũng như cha, là người kiên trì không vị bất cứ cái gì ngoài ý thích của chính mình, và gần suốt cuộc đời bên gia đình, cha cứ thế thay đổi vị trí những đồ đạc trong nhà, nhất là cái thời mới chân ướt chân ráo bước vào Saigon.

Cho đến bây giờ, tôi tin chắc những anh chị em đợt một chúng tôi không quên những buổi sáng cuối tuần được theo cha mẹ đến một nơi mà chúng tôi chỉ biết tên tiếng Tây là salle des ventes, tôi nhớ nằm ở tầng trệt trên đường Lagrandière về sau đổi lại là Gia Long, từ nhà chúng tôi ở khu Nancy (nửa đường Saigon Chợ lớn) đi về phía Saigon, nó nằm bên tay trái, đâu đó gần cái nơi về sau tôi được biết là Thư viện Quốc gia, đi thẳng tới đường Catinat, rồi quẹo trái là ra tới Nhà thờ Đức bà màu đỏ gạch cao lêu nghêu trông giống như từ những tấm cartes postales bước ra. Cái tên Tây salle des ventes ấy nằm lâu năm trong đầu chúng tôi như một nơi duy nhất ở đất Saigon (mà nhiều năm sau tôi vẫn nghĩ là chúng tôi chưa biết hết) người ta bán bàn ghế tủ kệ, giường ngủ, đèn bàn, salon, đivăng, ghế bành, đồng hồ treo tường, tranh ảnh, vân vân, với một người đứng trên cao lớn tiếng hô to giá người mua chịu mua, và cái hình ảnh mua bán kia một thời làm chúng tôi tin rằng ở những chốn văn minh, có thể mọi việc mua bán đều theo một phương cách như thế, phải qua một trận hỏi đáp kịch liệt: người hỏi phải la lớn, người mua cũng phải hét to… Có thể nói trong vài năm kéo dài sau đó, khi gia đình chúng tôi bắt đầu dọn ra ở một căn phố cũng trên đại lộ Galliéni ấy, nhưng là sát nách bên kia khu Nancy, phía sau nhà có một con kinh nhỏ đen sình lầy cũng là phía sau dãy nhà lợp tôn của Institution Kiến Thiết là nơi mấy tháng trước đấy lần đầu tiên tôi mặc cái quần sọt kaki mới tinh (do mẹ tôi may lấy, và may bằng tay) nép mình vào bộ áo quần tây màu nâu của cha đi vào lớp Troisième année, những vật dụng thu nhặt được từ salle des ventes là những đồ chơi thích thú đem lại cho cha tôi nhiều dịp tự thử thách sáng kiến và đầu óc mỹ thuật của mình, một mặt, và mặt kia, nó giữ chân cha ở nhà nhiều hơn với mẹ con chúng tôi thay vì đi rong nhậu nhẹt đàn đúm như nhiều bạn bè cha quen biết trong Bộ.

Catinat, SAIGON 1953

Catinat, SAIGON 1953

 

2

 

Sau này tôi biết tôi sẽ có thể phải mất công xáo tung những trang này, nếu như bây giờ tôi quyết định làm một công việc điên rồ là sắp xếp cuộc đời cha tôi theo một bố cục hẳn hoi. Suốt cuộc đời cha rao giảng sự thứ tự cho anh chị em chúng tôi, cả cho mẹ chúng tôi mà có thể lúc nào cha cũng yêu theo cái cách của một người anh cả, nếu không bảo là một người trên nói chung (cha hơn mẹ tám tuổi), thế nhưng trong những chuyện lớn, trong nhiều chuyện lớn, hình như cha thường cho mình sự ngoại lệ. Bảo rằng cuộc đời cha không có bố cục là không đúng, có điều hầu như lúc nào cũng chính cha là người có sáng kiến làm khác đi: chân ướt chân ráo bị bắt về thành, tức là về ngay Quảng Trị, rồi đang yên ổn ở Bộ Cựu chiến binh và phế binh ở Saigon, cha có sáng kiến nhảy qua Bộ tài chánh; ngồi không lâu ở Bộ tài chánh, có thể thích một số anh em bạn bè mới từ bên Tây về nước nhưng đặc biệt không ưa ai đó, cha khăn gói qua Thuế vụ; ngồi ở đây chưa nóng đít, cha bỏ những tay ba tàu ở Chợ lớn ngày đêm cứ đến đòi đút lót hối lộ, lên làm Thuế vụ Dalat; rồi ở đây, giữa lúc cả gia đình đang tận hưởng những ngày tháng thoải mái êm đềm với một cuộc sống riêng chỉ nói về vật chất thôi đã phải gọi là vượt rất xa sự mơ ước, trong một buổi họp với Đại biểu chính phủ (tương đương với Thủ hiến một miền, vả chăng cũng là một người cậu họ hàng xa của cha), giữa bao nhiêu chức sắc mặt mũi của cả một thành phố trung tâm Cao nguyên Trung phần, cha cảm hứng lên tiếng dạy và gần như mắng vào mặt vị Đại biểu kia, để rồi mấy tháng sau khăn gói đem cả một bầu đoàn thê tử trở về Saigon… Những thứ đổi đời đột ngột kia do một tay cha làm ra, và nói cường điệu, thì có thể gọi là dưới chiếc đũa phá cách của người điều khiển dàn nhạc là cha, cả gia đình chúng tôi đều có những cuộc phiêu lưu không ăn nhập gì đến những sắp xếp giao hưởng trật tự theo lý thuyết của con người kháng chiến ấy. Do đó, anh chị em chúng tôi, so với bạn bè chung quanh, bất cứ nơi nào cha đưa đến, cũng được xếp vào hạng vô địch về khoản… đổi trường, đưa đến một tình trạng có lẽ rất phù hợp với bản chất và cả hiện tượng nơi cha: giống như cha, anh chị em chúng tôi rất nhiều bạn.

 

Saigon, 1968.

Saigon, 1968.

Posted in Tiểu thuyết | Leave a Comment »

Nằm

Posted by nxbtrinhbay trên Tháng Năm 2, 2009

hnbhoatho

Posted in Thơ | Leave a Comment »

trùng dương| phố phái | trụ trên nỗi đau

Posted by nxbtrinhbay trên Tháng Năm 1, 2009

trùng dương

 
ta thấy rồi
ngọn gió vàng thoảng qua
mặt trời chìm trong biển
sóng bạc đầu bắt nhịp
mây xanh xao nhuốm bệnh
hịu quạnh
những
trời xa
 
ta thấy rồi
nỗi đau dày vô tận
ký ức nặng mùa đông
thời gian ngàn cánh hạc
biển
lần nữa
trùng dương
 
ta thấy rồi
mưa trong mây vô tận
nghiêng những giọt xanh lam
mùa khô da tróc vỏ
cây lần nữa
đổi
màu
 
 
 

phố phái

 
những bệt màu lam hồng
góc phố lạnh tanh
sắc xám
căn gác vuông
tro than ngày cũ
nét cọ đen kéo dài ký ức
 
nỗi buồn này
phố phái
ngàn năm
 
 
 

trụ trên nỗi đau

 
hai chân trụ trên nỗi đau
ta hát bài hát riêng ta
hơn sáu thập kỷ đi – về
chiều nghiêng nghiêng màu đục
đường hai bên
cỏ dạt
đẫm thời gian
 
đem theo gì
con người vô định
đem theo gì – đêm lên tiếng hỏi
 
đêm trả lời
 
lời kinh của mẹ
tiếng mõ của cha
730
Một minh họa mực tàu của
Hoàng Ngọc Biên, Saigon, 1970.

Posted in Thơ | 1 Comment »

Saitama – trích nhật ký tái sinh*

Posted by nxbtrinhbay trên Tháng Năm 1, 2009

gửi Iri & Toshi Maruki, Kondo Noboru,
Mioko Fujieda, Kim Jean Sook, Võ Đình
và cái ngõ hẹp đi vào nhà Sosei

 

 

              Lên xe lửa với Kondo
              buổi chiều sương rối rít
              rét như băng
                            sân ga đục như những nét cọ sơn dầu
                            toa xe lạnh những cột kèo tay nắm
              mưa điểm một chút xám cuối năm
                            chút ướt nhấn lên nền trời
 
Tokyo không trở lại…

 

Tôi bước đi trên đường làng, lòng mênh mang nhớ những thôn xóm quê nhà, những ngọn đèn vàng leo lét buổi chiều xa, tiếng chuông mõ của cha của mẹ… Tôi nhớ tiếng bước chân anh chị em trong nhà lên xuống cầu thang, những chén cơm chiên khuya râm rang tiếng học bài, nhớ tiếng nhạc ray rứt của chiếc đồng hồ treo tường những buổi rạng đông. Tôi nghĩ đến vợ và các con, đến gia đình…

Trong khí lạnh hoàng hôn của một vùng đất xám tro heo hút điểm những sắc phấn màu của cây cối sân vườn và mái nhà, những tấm tranh Võ Đình vẽ Nhất Chi Mai ở tiền sảnh, để bên cạnh một hộp quyên góp cho phong trào đấu tranh cho hòa bình Việt Nam, như một ngọn lửa ấm reo vui…

 

Hai người cháu gái bị giết chết trong trận Bom Nguyên tử 6 tháng Tám 1945, ở tuổi thanh xuân… ông bác lạc mất không tìm thấy, người em gái và nhiều bà con họ hàng bị cháy bỏng trầm trọng… cha chúng tôi qua đời sáu tháng sau – nhiều bạn bè vĩnh viễn không còn gặp mặt…

Toshi Maruki & Iri Maruki

Toshi Maruki & Iri Maruki

 

Tiếng nói líu lo của bà hòa lẫn trong tiếng trầm đục của ông. Những câu ngắn không chấm phẩy trôi như những dòng nưóc dưới thung lũng chạy dài bên kia sân nhà Maruki, là của Toshi, tóc bạc phơ, nụ cười hiền ngơ ngác lúc nào cũng như đang có một câu hỏi và lúc nào cũng như chưa hỏi hết câu hỏi đó, với hai gọng kính lớn che gần hết cả đôi chân mày ngắn nhạt. Iri nói chậm, và ít nói, tuy nhiên, trong trí nhớ của tôi, câu nào líu lo giọng chim, câu nào trầm đục tiếng mõ, tôi vẫn còn không phân biệt được. Có mặt chung quanh tôi, dưới ngọn đèn vàng ấm áp, bữa ăn gia đình đã dọn ra, là Iri & Toshi Maruki, Kondo Noboru, rồi anh bạn trẻ học kiến trúc ông bà Maruki nhờ ra sân ga đón chúng tôi (mà tôi không còn nhớ tên họ) và bà em gái của Iri – Toshi giới thiệu với Kondo và tôi – một nạn nhân Hiroshima, cũng là một họa sĩ.

 

Ba ngày sau khi quả Bom Nguyên tử dội xuống, từ Tokyo, tôi lên được chuyến xe lửa sớm nhất về Hiroshima. Mấy ngày sau Toshi cũng về theo.
 
… Từ toa xe lửa tôi đã tận mắt chứng kiến trận bom cháy Nagoya… Gần đến ga, trên toa xe bấy giờ chỉ còn đâu năm hay sáu hành khách, tôi đột nhiên có cái cảm giác hoàn toàn lạc lõng, bị bỏ rơi, thấy như chính mình sắp vĩnh viễn rời xa thế giới này… Và lạ lùng thay, trong cái bóng đêm đen làm nền cho lửa và khói ấy, tôi vẫn còn nhìn ra được Vịnh Hiroshima, vùng đảo Etajima và Miyajima. Tôi cuốc bộ đến ga Yokogawa, và từ đó đi thẳng về nhà…

 

Iri Maruki người bề bộn, râu tóc đều bạc phơ, nhưng thường trực trên đầu là chiếc nón bérêt len đen đậm. Không như nhiều người, ông nói chậm rãi, thong thả, nhấn mạnh khi tới những chỗ cần người nghe quan tâm, thỉnh thoảng hai mắt như nhắm nghiền, và gần như lúc nào cũng sợ người nghe không hiểu hết ý.

 

              Tokyo không trở lại
              Những phòng tranh
                            & quán sách Hà Nội
                            ở mãi tít tầng ba
              Tokyo sao không ở lại
                            những quán ăn bốc khói ấm lòng
              buổi chiều sương quấn quít
                            – cô Kim có thể vẫn
                            quàng khăn đỏ đứng chờ
                            trong hốc cửa Fukuinkan
 
              Saitama làng xa xôi quạnh quẽ…

 

Ngôi nhà gia đình, nằm cách trung tâm dội bom khoảng hai cây số, còn đứng được, nhưng mái nhà đã bị tốc không còn một miếng ngói. Cửa sổ cửa lớn, những tường chắn bay mất, nồi niêu chén bát & muỗng, đũa không còn trong vuông bếp giờ đây vắng tanh…
 
Từ những hốc tường xám tro còn bốc mùi lửa, chúng tôi thấy nhấp nhô những hình thù, những thân xác lạ lùng của những nạn nhân chồng chất trên nền gạch khói, trên đất khô.

 

                            Saitama làng xa xôi quạnh quẽ
                            những mùa trăng
              thung lũng chập chùng màu thủy mạc
                            sỏi đá trắng phau
                            khe suối đâu đây rì rào tiếng nước
              chiều mênh mông như nỗi nhớ
 
              Namu Amida butsu… lời kinh nghe từ xa
              Nhà Maruki nằm sâu trong xóm

 

Maruki Gallery** nằm sâu trong xóm. Đi qua một khoảng sân rộng mênh mông, chúng tôi đến một hàng rào thấp, từ đó có thể nhìn xuống thung lũng: con suối lao xao tiếng nước chảy qua những lớp sỏi và đá tảng tung lên những bọt trắng, trong cái nền sương chiều ấy bọt nước, sỏi đá, suối, thung lũng, sân nhà như cùng lúc hiện rõ một lần cuối trước khi chìm vào bóng đêm.

 

Chúng tôi khiêng gom những người bị thương, ra sức hỏa thiêu những người chết, tìm những tấm thiếc cháy sém để đắp vá các mái nhà chưa bị sụp đổ hoàn toàn, những người còn đi đứng được lo kiếm cái ăn.
 
Bên cạnh chúng tôi là những nạn nhân của Bom, ai nấy cùng chúng tôi lần mò đi giữa mênh mông mùi thối của xác chết, giữa ruồi và giòi nhặng, ngẩn ngơ giữa cái phải làm và cái không biết phải làm gì…
 
260.000 người chết không kịp hiểu ra nguyên do cái chết của mình, và con số còn bất định những kẻ sống sót chờ đợi cái chết trả góp.

 

              Nhà Maruki nằm sâu trong xóm
                            đường quanh co rộn rã
                            tiếng tre trúc
              cái giếng trong làng xôn xao
                            những giọng cười trong trẻo
                                          ngọn đèn đêm như nỗi nhớ…

 

Đi khỏi cổng, rẽ qua trái là lối vào tiền sảnh. Đi qua cửa vào tiền sảnh, con mắt thoạt tiên chưa quen với ánh đèn ấm áp của một cái gì như là hành lang, nhưng ngó qua phải, trên một thứ tokonoma, chiếc bàn con màu gỗ tươi, là mấy tập tranh in của Võ Đình Việt Nam, và cái hộp quyên góp cho hòa bình Nhất Chi Mai. Muốn vào xưởng vẽ của hai người, hình như chúng tôi, Toshi và tôi, đã phải vòng trở lại, đi ra căn nhà phía sau. Toshi đưa tôi vào xưởng vẽ ấy, ở tầng hai. Chiếc cầu thang không rộng, trong trí nhớ của tôi, là một cầu thang gỗ, giữa đường đi lên có một ngọn đèn vàng. Phần đất của riêng Toshi khá rộng: đa số tranh là những tranh thuốc nước lớn, màu xám xanh, có những tấm trải thẳng trên thảm, nhiều tấm cuộn tròn. Toshi mở những cuộn ấy và nói về cuộc xâm lăng của Nhật bản vào bán đảo Triều Tiên, sự kỳ thị và ngược đãi, hãm hiếp thô bạo của người Nhật đối với những người lao động Triều Tiên mà họ luôn coi là nô lệ, nhất là với số người Triều Tiên nạn nhân ở Hiroshima lên đến hai chục ngàn, thây phơi giữa trời cho chim đến rỉa – mặt bà cúi nhìn xuống đất…

 

Đầu tháng Chín trở về Tokyo, chúng tôi nghe nói chiến tranh chắc chắn đã chấm dứt. Ở Hiroshima chúng tôi không được biết như thế…

 

Ba năm trôi qua kể từ Hiroshma. Iri và Toshi bắt đầu cầm cọ và ghi lên giấy những gì đã tận mắt nhìn thấy.

 

Thoạt tiên chúng tôi nghĩ đã quá trễ, ba năm có thể đã quá xa… Nhưng rồi chúng tôi đã làm việc ngày đêm – những đêm không có đêm, và những ngày không có ngày.
 
Bắt đầu là những thân người trần truồng, để nhớ lại, để kéo về hiện tại, những hình ảnh thời bấy giờ. Nhiều người, nhiều bạn bè đã tự nguyện đến làm mẫu bởi vì họ nghe nói chúng tôi đang vẽ Bom Nguyên tử ở Hiroshima… Chín trăm phác thảo, ấy là chất liệu cho những tranh sáng tác đầu tiên. Chín trăm phác thảo, con số với chúng tôi là con số dữ dội, số những người được đưa lên giấy là một con số có thể kinh hoàng, thế nhưng chết ở Hiroshima có tới hai trăm sáu mươi ngàn…

 

Ngọn đèn treo trên bàn ăn chiếu xuống hai gương mặt hiền hoà, có lúc tươi trẻ như để tương phản với vết thương chưa liền da, có lúc khắc khổ như nỗi lo cái đau lâu đời đang có cơ tái hiện:

 

Không, không có gì đáng kể, những phác thảo thời ấy. Chỉ là để cầu nguyện cho không bao giờ tái diễn nữa những cái chết đau thương như thế, không có gì đáng kể, cho dù để ra cả đời, chúng tôi cũng không đưa hết lên tranh những con người như thế, chết, và không bao giờ hiểu được tại sao.

 

1950: ba bức hoành tráng đầu tiên Những hồn ma, Lửa, Nước. Triển lãm lưu động khắp nước Nhật. 1951: bức thứ tư và thứ năm Cầu vồng, Những cậu bé và những cô bé. Tất cả năm bức đã đi tới 350 địa điểm trong nuớc – chín triệu người xem. 1952: bức thứ sáu Sa mạc Nguyên tử… Đan mạch, Anh, Thụy sĩ, Ý, Tiệp khắc, Hungari, Rumani, Hà lan… 1954: Bức thứ bảy Bụi tre và bức thứ tám Giải cứu. 1955: bức thứ chín và thứ mười Cảng Yaizu Thở dài – để chỉ nói tới những bước đầu đánh dấu 10 năm sau Hiroshima.

 

Năm 1956, Iri và tôi đem ra nước ngoài triển lãm cả thảy mười bức. Tranh đi qua hai mươi nước, như Trung quốc, Mông cổ, Triều tiên, Tây Đức, Hà lan, Bỉ, Tích lan, Nam Phi, Salisbury, Cape Town, Joannesburg, Úc, Tân tây lan, Liên xô, Tiệp khắc, Hungary, vân vân… Những bạn bè ở Trung quốc đã giúp chúng tôi lên khung các bức hoành tráng, và ở Liên xô, tranh chúng tôi đi qua nhiều thành phố nhất, kéo dài cả một năm rưỡi…

 

Tận mắt lần viếng thăm ông bà Maruki, tôi không được nhìn thấy bức Cảng YaizuThở dài, nhưng nhớ đã được cho xem Mẹ và Con (1959) và Những ngọn đèn trong Nước (1968).

… Bà em gái của Iri có một căn phòng nhỏ ngay chỗ bàn ăn đi vào. Xưởng vẽ ít giống một cái xưởng vẽ, đúng hơn là một chỗ chứa tranh. Tranh của bà tất cả đều vẽ khổ lớn, với màu sắc, lạ thay, rõ ràng tươi vui hơn những tranh của Iri và Toshi. Bà là một trong số những nạn nhân sống sót của trận Bom. Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua cuộc đời còn lại ấy: bà chia thời giờ giữa Saitama và nơi người chồng ít may mắn hơn đang sống những ngày tàn phế

 

như bao nhiêu nạn nhân lâu năm vẫn còn bị nhiễm phóng xạ, và cho đến bấy giờ, sau hơn một phần tư thế kỷ kể từ Hiroshima, vẫn tiếp tục nằm chờ ngày lần lượt ra đi…

 

              Nhà Maruki nằm sâu trong xóm
                            đường quanh co rộn rã
                            tiếng tre trúc
              cái giếng trong làng xôn xao
                            những giọng cười trong trẻo
 
              ngọn đèn đêm như nỗi nhớ…

 

HOÀNG NGỌC BIÊN

Hoàng Ngọc Biên – Maruki Gallery, tháng 11.1974 (ảnh Kondo Noboru)

Hoàng Ngọc Biên – Maruki Gallery, tháng 11.1974 (ảnh Kondo Noboru)

* Tháng Mười một năm 1974, Kondo Noboru đưa tôi đến thăm ông bà Maruki tại Maruki Gallery ở làng Saitama. Chiến tranh Việt Nam đang hồi quyết liệt. Những biến cố xảy ra ở thời điểm ấy, không những ở Việt Nam, mà còn nhiều nơi khác trên thế giới không thể nào không có ảnh hưởng đến những quyết tâm của những người hoạt động như Iri (1901-1995) và Toshi Maruki (1912-2000). Khi trở về Việt Nam, tôi đã ghi lại Nhật ký tái sinh, một phần khá lớn đã bị thất lạc những ngày đầu tháng Năm 1975. Trích đoạn trên đây là một phần của nhật ký chắc chắn chưa thể nói hết sự biết ơn của tôi với ông bà Maruki, với tư cách một người Việt Nam.
 
** Maruki Gallery ở Quận lỵ Saitama, nằm ở phía tây bắc Tokyo. Saitama ngày nay, ngoài 15 tranh hoành tráng ghi lại thảm họa Hiroshima (và nhiều tác phẩm khác đậm dấu ấn chống những cuộc chiến tranh và những hành động phi nhân diễn ra trên thế giới) pha trộn phương thức & bút pháp Đông của Iri Maruki và Tây của Toshi Maruki triển lãm thường trực, còn là chỗ nương náu của Viện Bảo tàng John Lennon, nơi người ta thường xuyên tổ chức những buổi diễn ca nhạc đấu tranh cho hòa bình.

Posted in Truyện / tùy bút | 1 Comment »

Về Georges Perec và “Chuyến đi mùa đông”

Posted by nxbtrinhbay trên Tháng Tư 30, 2009

Georges Perec sinh ngày 7 tháng Ba năm 1936, tại Paris, cha mẹ đều là Do Thái đến từ Ba Lan và đều mất sớm — cha đi lính hồi Thế Chiến II, bị trúng đạn tử thương; mẹ bị lùa vào trại tập trung và qua đời ở Auschwitz. Thời còn là sinh viên khoa lịch sử và xã hội học ở Sorbonne, ông từng cộng tác viết điểm sách và tiểu luận cho nhiều tạp chí: La nouvelle NRF, Les Lettres Nouvelles, Partisans. Ông viết không phải để thay đổi thế giới: cái viết của ông, ông coi chỉ là chuyện “khá tầm thường… một cách tổ chức lại những chữ trong tự điển, hoặc là tổ chức lại những cuốn sách người ta đã đọc qua.”[*] Ông xuất bản tiểu thuyết đầu tay Les Choses năm 1965 và đoạt giải Renaudot. Tiếp sau là hai truyện kể giọng điệu rất khác nhau, Quel petit vélo à guidon chromé au fond de la cour? (1966) và Un homme qui dort (1967). Ông tham gia OuLiPo[**] năm 1967 và trở thành một trong những người sáng tác mạnh nhất của nhóm.

Perec không có một đặc điểm, ông có những đặc điểm: bởi vì sách ông ra đời không có cuốn nào giống cuốn nào. Nếu phải tìm và ghi ra một số nét gì đó ở Perec, hãy nói tràng giang về tính chặt chẽ trong hình thức, cái thú vui tưởng tượng, trò chơi chữ và những trò chơi về nghệ thuật thơ ca, chuyện đời riêng gắn với thời đại, và những kiểu uốn chữ riêng ông khám phá và… chơi một mình: cuốn La Disparition (1969) tuyệt đối không có một chữ e, cuốn Les Revenentes (1972) hoàn toàn không có những nguyên âm a, i, o, u, mà dành độc quyền cho chữ e ấy… W ou le Souvenir d’enfance (1975) được coi là tác phẩm tự thuật quan trọng (những chương về ký ức tuổi thơ xen kẽ với những chương truyện hư cấu) mà những mảnh rời có liên hệ tới 124 giấc mơ trong La Boutique obscure (1973) và sau đó là những ký ức hoài niệm trong Je me souviens (1978). Qua lối quan sát tinh vi, diễn tả sắc bén, đời sống thường nhật đi vào tác phẩm của ông muôn hình muôn vẻ, và dưới nhiều hình thức: sân khấu, truyền thanh, nhất là điện ảnh. Giải Médicis 1978 được trao cho tiểu thuyết La Vie mode d’emploi đánh dấu bước quyết định cho một sự nghiệp văn chương có một không hai của Georges Perec. La Vie mode d’emploi (mà ông để là ‘romans’, thay vì ‘roman’) gồm hơn 100 câu chuyện đan dệt với nhau liên hệ tới những người ngụ trong một chúng cư lớn nằm trên phố Simon-Crubellier, Paris — hình ảnh gợi hứng cho Perec là bức tranh (vẽ theo kiểu bỏ mất mặt tiền) một chúng cư ở New York của họa sĩ Saul Steinberg.

Ông mất vì bệnh ung thư ngày 3 tháng Ba năm 1982 ở Ivry, giữa lúc chỉ viết tới chương thứ mười một một cuốn sách khác hẳn những cuốn sách trước, “53 jours” (mà ông gọi là tiểu thuyết trinh thám) — giống như nhân vật Percival Bartlebooth trong La Vie mode d’emploi chết trước khi hoàn thành 500 hình chắp nối của mình, và có lẽ không khỏi làm ta nghĩ đến cái chết giữa lúc cuộc tìm kiếm chưa đi đến đâu của giáo sư Vincent Degraël trong Chuyến đi mùa đông.

Chuyến đi mùa đông là một truyện ngắn xuất hiện lần đầu tiên trên bản tin Hachette Informations, số 18, tháng Ba-tháng Tư 1980 của nhà xuất bản Hachette, Paris. Đúng một năm sau khi Georges Perec qua đời, trong số đặc biệt dành cho nhà văn, tạp chí Magazine littéraire (số 193, tháng Ba 1983) đã cho đăng lại truyện này, đăng lại nhưng vẫn được coi là một trong nhiều cái viết chưa hề được công bố của Perec. Mãi đến tháng Mười 1993, tác phẩm mới được in dưới dạng sách, do nhà Les Éditions du Seuil xuất bản trong Tủ sách La Librairie du XXè siècle.

Như thế, Chuyến đi mùa đông, truyện ngắn bí ẩn, với sự xuất hiện có thể được xem cũng gần như bí ẩn — bởi lẽ nó xuất hiện không phải trên một tạp chí văn học, mà lấp ló sau một bản tin của nhà xuất bản Hachette — nhà đã xuất bản hay đồng xuất bản ít nhất năm tác phẩm của Perec trong khoảng 1978–1985, nghĩa là cả sau khi Perec qua đời (Je me souviens, La Vie mode d’emploi, La Clôture et autres poèmes. Théâtre I, Penser/Classer). Từ những trang tin của Hachette Informations đến ấn bản của Seuil, cách nhau 13 năm, những dòng chữ sắc bén và đầu óc tưởng tượng ranh mãnh của Perec mà không ít người, nếu không để ý đến tên tác giả, hẳn có thể tưởng là của Jorge Luis Borges, quả đã đi một đoạn đường dài, đoạn đường quái dị, nếu có khác Chuyến đi… của Hugo Vernier, ấy chỉ là khác ở chỗ rốt cuộc nó đã được cứu hai lần — trong khi Chuyến đi… thì sau đó, như hình dáng cuốn sổ các sinh viên môn đệ của giáo sư Vincent Degraël tìm thấy sau khi ông mất ở một bệnh viện tâm thần, đã trở thành… đi luôn.

Và như thế — ngoài Chuyến đi mùa đông dưới dạng “một cuốn sổ dày cộm đóng bìa cứng bằng vải màu đen” trong “đống tư liệu và bản thảo mênh mông” mà giáo sư Vincent Degraёl để lại — chúng ta có đến hai Chuyến đi mùa đông: một của Hugo Vernier, và một của Georges Perec. Tên gọi và ngày tháng trong Chuyến đi mùa đông của Perec và cả trong nhiều tác phẩm khác của ông thường không chỉ là do tình cờ. Nó được đặt ra, nếu không bảo là luôn được chọn, để nói một điều gì, hàm chứa một điều gì, giải thích một điều gì. Trong Chuyến đi mùa đông dường như có một đường dây liên kết giữa ba phía: Hugo Vernier – Georges Perec — Thế Chiến II (1939–1945). Tên Vernier chẳng hạn, được đặt cho tên tác giả Chuyến đi…, làm người đọc trước tiên nghĩ đến cái cân mang cùng tên (tên lấy từ tên người phát minh ra nó: Pierre Vernier), với đặc điểm có lẽ không ai không biết: nó là một cái cân nhỏ, di chuyển được, dùng điều chỉnh một cái cân lớn hơn để ta có thể đọc theo phân số (fraction), khá giống hình ảnh cái “tác phẩm ngắn ngủi” mà Hugo Vernier để lại nơi người đọc sách của ông — cuốn sách mà ta có thể dùng để đọc những tác phẩm lớn sau ông, cũng kiểu đọc theo… phân số! Ngày tháng trong Chuyến đi mùa đông cũng để lộ những yếu tố “Perec”: ngày sinh được chọn cho Hugo Vernier là 3 tháng Chín, trùng với ngày nổ ra Thế Chiến II. Năm sinh được chọn cho Vernier, tính theo toán học, là đúng một trăm năm trước năm sinh của Perec. Ấy là ta chưa nói đến cái “ngụm trà… một âm thanh, một mùi vị, một cử chỉ” lấp ló sau ký ức của vị giáo sư văn chương trẻ tuổi! Như thế, cái ngổn ngang trong số phận của cuộc tìm kiếm bị ngưng giữa chừng của vị giáo sư văn chương sống sót sau Thế Chiến II không giống như những khoảnh khắc trong cuộc đời đã tìm lại được của cậu bé Do Thái Perec (cha mẹ đều qua đời, cha do bị trúng đạn, mẹ bị đi đày không bao giờ còn trở lại), nhưng cả hai đều có một cái gì đó rất chung: cái cảm giác số phận bơ vơ hụt hẫng sau chiến tranh. Những “sắp xếp” như thế, trong khung cảnh một truyện ngắn có vẻ như vô tư, thời gian được nêu rõ đấy mà cũng như chẳng có thời gian — khởi sự từ thư viện nhà Borrade và kết thúc ở bệnh viện tâm thần Verrières — xét cho cùng, ta chỉ thấy có ở một Georges Perec.

Những thành ngữ hay những câu thơ Perec sử dụng khi trích đoạn bằng tiếng Pháp, và ngay cả khi nêu tên những tác giả lớn “cuối thế kỷ” ở Pháp như Mallarmé, Rimbaud, Verlaine, hay cây đại thụ Victor Hugo (cây đại thụ đối chiếu với con người đã chìm khuất Hugo Vernier quả là giống như hai người đang đứng hai phía của tấm gương soi!) thực ra không đòi hỏi người đọc một kiến thức nào về văn học Pháp: trên đường đi tìm dấu vết một tác giả đã chìm khuất, hoặc vì lý do này hay lý do khác đã bốc hơi, mà tác phẩm rất có thể đã từng — nói một cách lịch sự mỹ miều — là nguồn cảm hứng cho những cây đại thụ, ở đâu mỗi chúng ta cũng có thể truy ra được những đoạn trích của riêng mình…

 

————————————

Xin đọc Georges Perec, Chuyến đi mùa đông  

_________________________

[*]Chuyện trò với Jacques Bens và Alain Ledoux, trong Jeux & Stratégie, số 1 (1980).

[**]OuLiPo (Ouvroir de Littérature Potentielle) là tên gọi một nhóm những nhà văn trong và ngoài nước Pháp, cơ sở đặt tại Paris, được thành lập năm 1960 do sáng kiến của Raymond Queneau và François Le Lionnais, qui tụ một số nhà văn nổi tiếng, trong số có Harry Mathews (Mỹ), Italo Calvino (Ý). OuLiPo chủ trương tìm cách mở rộng văn học bằng cách vay mượn những mẫu hình thức từ những lĩnh vực khác như toán học, luận lý học hay môn đánh cờ, đồng thời khai phá những tiềm năng sáng tạo từ các qui luật hình thức, và chuyên về những phép đảo chữ, những từ hay cụm từ có thể đọc xuôi ngược đều như nhau, những trò chơi chữ toán học, và những kiểu đố chữ khác nhau.

Posted in Tiểu luận / nhận định | Leave a Comment »

Chuyện một người không có trái tim

Posted by nxbtrinhbay trên Tháng Tư 1, 2009

hoangngocbien-paris

 

Chuyện một người không có trái tim

 
Tôi đứng trên cầu, thơ thẩn nhìn ra phía sông nước cuối dòng. Chân trời nhuộm một màu đỏ chói chang. Mây không tím không hồng.
 
Tôi bỗng nghe một tiếng động nhỏ sau lưng, tưởng có người bạn loanh quanh đâu đó nhìn thấy mình, tò mò ghé lại tám. Tôi quay người và nhận một cú đấm long trời lở đất vào ngực, bất thần, ngay trái tim.
 
Bàn tay xuyên vào bên trong ngực, đẩy trái tim tôi ra khỏi lưng, rơi xuống sông, Trước sau tôi chỉ nghe một tiếng nước bắn tung toé, tiếng nhỏ và ngọt như tiếng một hòn sỏi rơi, từ dưới sâu vọng lên.
 
Mọi việc tiếp tục như không có gì xảy ra. Bàn tay biến mất. Tôi rảo bước qua bên kia cầu, trong người nhẹ nhõm, vì không còn ôm trái tim trước ngực, để lúc nào cũng phải thấy lòng nặng trĩu.
 
Saigon, 4.2009

Posted in Thơ | Leave a Comment »

ngày sinh của hắn

Posted by nxbtrinhbay trên Tháng Một 18, 2009

hnb-tranglanh
Hoàng Ngọc Biên, Trăng lạnh,
tranh digital (26.3.2006).
 
 

ngày sinh của hắn

 
thế là trên bảy mươi
ta vẫn phải cứ đi
phải cứ đi
vì đã lỡ đi – đã lỡ ôm túi vải
thời trẻ tuổi
lên đường
 
trên bảy mươi
đất dưới chân lạnh đến nỗi
nhà cửa cây cối phải ngẩng mặt
nhìn trời phát ra những âm thanh
kinh hoàng
 
trên bảy mươi
nhiều người thích
được có người dắt dẫn
ôm vai quàng cổ khen nhau
trẻ già ai nấy
hớn hở đồng chí anh em
mệt nghỉ
 
ta vẫn phải cứ đi
đi riết vẫn không biết
mình đi đâu
 
đi riết – một mình
cho tới khi
gặp một bến sông
bờ bên này là đồng khô
bờ bên kia là cây xanh
bóng đổ dài lên mặt nước
 
a ta đã về đến chỗ ngày xưa
– tiếng nói rớt trên chỗ giáp tiếp đất và nước –
ngày trần truồng tay ta ôm chặt
một thân chuối thả trên sông
nói sòng phẳng:
đạp bằng hai chân ta thấy thú hơn
đạp bằng đầu
 
đi tới – mà chẳng cần biết
phải đi tới đâu
 
ta đã đi và ta đã đến!
tiếng thét vô duyên lạc trên chỗ tiếp giáp
quá khứ và hãy cứ coi là hiện tại
hai mắt ta tròn xoe ngơ ngác
chỗ này a? thế thì khác chỗ khác chỗ nào?
chỗ nào cũng thế – chỗ nào
cũng như nhau
chỗ nào cũng đơn một màu tẻ nhạt
chỗ nào cũng có chính điện
nằm giữa hai chái
những cánh cửa mái ngói
rồng phượng uy nghi
và những ông kẹ nham hiểm
dùng giáo mác giập tắt tiếng kêu
của đám hiền dân ở chiếu dưới
 
hiền dân lâu ngày lặng lẽ
sống dưới hào quang
những làng quê đầy dẫy
những đền thờ
 
nơi đây
mọi thứ đều tiến bộ
đến nỗi một thời
những cánh chim và ngay cả vầng trăng
trở mình không đúng hướng
nghe nói
cũng có thể bị đe doạ
lưu đày
 
 
trên bảy mươi
thế là…
 
 
            Buca di beppo, SJ – 18.01.09

Posted in Thơ | Leave a Comment »

chấm than bẻ ngược

Posted by nxbtrinhbay trên Tháng Một 1, 2009

 

 

 hnb-chamthanbenguoc1

Hoàng Ngọc Biên, Chấm than bẻ ngược,
tranh digital, 1.2009.

chấm than bẻ ngược

 

 
đừng băn khoăn hãy vô tư
cứ điều có thật mà nói đừng giả dối
đừng hoảng hốt loanh quanh
ngay cội nguồn cũng sẽ hết là cội nguồn
trên trái đất – cho dù những cái loa có tâng bốc
cho dù có ai mất công
động viên kêu gào trách móc
anh cũng sẽ chỉ là một chấm than
bẻ ngược trong sương
 
chung quanh anh
những trụ đèn đường
chen lấn giữa trời
 
những con người
chụm đầu vào nhau
như những chấm than
bẻ ngược
dưới
mưa
 
     san jose – giêng 2009

Posted in Thơ | Leave a Comment »

Tường trình — một phác thảo

Posted by nxbtrinhbay trên Tháng Bảy 1, 2006

Có tuyệt vọng cũng không phí phạm…
Iom H. Cik
 
Bản đồ thường nhắc ta những giới hạn. Một lần trong giấc mơ tôi thấy mình bị trói ở chân trời. Bình minh có chim hót hẳn hoi, như trong các trang sách. Cánh đồng xa mát dịu, hoa nở những sắc tím hồng. Nhưng khi tôi dùng hết sức còn lại, hẳn là không có nhiều, thò chân ra đụng tới được một nhúm xanh lúa non, những đầu ngón chân lãng mạn của tôi bỗng thấy rát.
 
Giấc mơ thường nhắc ta những nỗi đau. Nhiều lần tôi thức dậy trong bóng đêm bỗng thấy mình chờ đợi chút ánh sáng rớt trên cây cỏ trong vườn: mặt trời lên biết đâu có thể làm dịu những vết thương. Tôi dùng hết sức còn lại, và hẳn là không còn nhiều, đưa cả hai tay vào tận bên trong ngực định xé toang những ác mộng, nhưng ác mộng không hình thù, tay tôi quờ quạng mãi không sao đụng đến được.
 
Buổi sáng cũng thường nhắc ta sự sợ hãi. Có lần dưới nắng tôi đi dạo trong vườn bỗng gặp một con mèo lững thững bước đến gần: mèo dừng lại trên ngưỡng cửa, cong người yểu điệu chống chân trái ra trước mặt và nghiêng đầu đưa đôi mắt sắc nhọn tình tứ nhìn tôi. Sự yểu điệu nào cũng không phí phạm: con mèo có thể đã xua tan mọi sợ hãi trong ngày — nhưng còn tôi, tôi trở lại nguyên sự tuyệt vọng của buổi chiều hôm trước.
 
Mọi gặp gỡ đều gây nơi ta sự hoảng hốt. Tôi đã nhìn thấy đồng quê, đã nhìn thấy phố phường, những bến sông bãi chợ, những tường thành khuất lấp, những hàng dừa đu đưa nhịp sóng, những bãi đậu xe lấp loáng nắng, những tòa nhà chọc trời, giữa những con người thiểu não lặng lẽ trôi — tất cả đều phủ lên mình những thang màu khiếp đảm.
 
Mọi đối thoại thường đem lại sự tuyệt vọng. Tiếng đất đai, tiếng biển cả ao hồ, tiếng chim chóc & thú dữ trong rừng, tiếng xe cộ trên đường phố, nhà máy rì rầm những trục quay, tiếng mưa đập trên mái ngói & tiếng nhạc sau các cửa kính an toàn, tiếng chó sủa vang trong các ngõ hẻm hoàng hôn — cả những tiếng đạn bom lao xao trên sa mạc… — tất cả đều có những ngữ pháp khác nhau. “Có tuyệt vọng cũng không phí phạm…”
 
San Jose 7.2006

Posted in Thơ | Leave a Comment »